Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh

Ngân hàng Nhà nước đã có Chỉ thị số 03/CT-NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng.

_images

Ảnh minh họa: tuoitre.vn

Theo đó, thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, ngay từ năm 2015, hoạt động cấp tín dụng của ngành Ngân hàng cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng; cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững. Đồng thời, thực hiện rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh; tập trung nguồn lực để cấp tín dụng cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường và xã hội, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp, qua đó thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các đơn vị tại trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước căn cứ chức năng, nhiệm vụ thực hiện tốt công tác tham mưu cho Thống đốc nhằm triển khai có hiệu quả Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 -2020. Vụ Tín dụng các ngành kinh tế chủ trì, phối hợp với các đơn vị triển khai xây dựng và thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh theo định hướng, mục tiêu Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã được phê duyệt; đầu mối tổ chức đào tạo, tập huấn nhằm tăng cường năng lực cho hoạt động tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội; hướng dẫn các tổ chức tín dụng xây dựng và triển khai hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội…

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chủ động nắm bắt tình hình kinh tế – xã hội và hoạt động ngân hàng trên địa bàn, đề xuất với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước các giải pháp thực hiện công tác quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn.

Đối với các tổ chức tín dụng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu căn cứ Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã được phê duyệt và các chương trình, kế hoạch hành động của Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố, chủ động triển khai xây dựng chương trình, chính sách tín dụng xanh nhằm tăng dần tỷ trọng tín dụng xanh trong cơ cấu doanh mục đầu tư tín dụng của mình; Nghiên cứu xây dựng và triển khai các giải pháp quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Triển khai tích cực công tác thông tin, truyền thông về quản lý rủi ro môi trường – xã hội và chính sách tín dụng xanh của tổ chức tín dụng để tạo sự đồng thuận, ủng hộ của dư luận, doanh nghiệp đối với mục tiêu tăng trưởng tín dụng xanh của tổ chức tín dụng nói riêng và ngành Ngân hàng nói chung.

Theo chinhphu.vn

Ngành xi măng: Đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất

Tập trung đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những định hướng đầu tư của ngành xi măng theo Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt giai đoạn 2020-2030.

263201511

 Nghiên cứu chuyển đổi công nghệ nâng cao chất lượng xi măng

Cụ thể, ngành xi măng sẽ phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với công nghệ tiên tiến, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường, tiết kiệm nhiên liệu và tiêu hao năng lượng thấp, bảo vệ môi trường.

Ông Lê Văn Tới, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) khẳng định, trong quy hoạch đã có lộ trình từng bước xóa bỏ công nghệ lạc hậu, đầu tư mở rộng các dự án có điều kiện về công nghệ, tài chính với công suất lớn, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng xi măng.

Để từng bước đổi mới công nghệ, khẳng định vị trí top đầu thị trường xi măng phía Nam, Tổng công ty Xi măng FiCO đã tập trung xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, xây dựng phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn (TCVN 17025:2005) Vilas 270 và sản phẩm xi măng FiCO PCB 40 đạt tiêu chuẩn TCVN 6260:2009, đảm bảo chất lượng ổn định, giá thành cạnh tranh. Ông Nguyễn Quang Trung – Tổng giám đốc Tổng công ty FiCO cho biết: “Trong thời gian tới (2016-2020), bên cạnh công tác sản xuất và tiêu thụ, FICO sẽ triển khai dự án đầu tư dây chuyền 2 có công suất thiết kế 1,24 triệu tấn clinker, dây chuyền nghiền xi măng công suất 1,6 triệu tấn xi măng, tổng vốn đầu tư khoảng 3.200 tỷ đồng. Dự kiến dự án sẽ hoàn thành vào giữa năm 2018”.

Bên cạnh đó, Công ty Xi măng Vicem Hoàng Thạch (Vicem Hoàng Thạch) cũng là một điển hình trong việc tập trung đổi mới công nghệ khi nghiên cứu, áp dụng thành công kỹ thuật giảm tiêu hao năng lượng nghiền liệu, nhờ đó lò 3 của nhà máy chạy ổn định và vượt công suất thiết kế với 336 ngày, đạt kỷ lục thế giới (thông thường theo tiêu chuẩn thiết kế mỗi lò chạy hết công suất khoảng từ 250-325 ngày); chi phí cho tiêu thụ sản phẩm chỉ có 70.000 đồng/tấn xi măng, trong khi đơn vị khác là 150.000-200.000 đồng/tấn.

Chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm 2015 của ngành xi măng tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2014. Tiêu thụ sản phẩm xi măng trong hai tháng đầu năm đạt 9,01 triệu tấn, bằng 103,9% so cùng kỳ năm 2014 và đạt 12,5% kế hoạch năm 2015. Trong đó, tiêu thụ trong nước vẫn đạt con số 6,76 triệu tấn, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2014.

Ông Đào Ngọc Bình –  Tổng giám đốc Vicem Hoàng Thạch cho biết, để phát triển mạnh theo chiều sâu, Vicem Hoàng Thạch đang chú trọng đào tạo nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế, đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến hợp lý hóa trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí.

Theo yêu cầu của Chính phủ, năm 2015, đối với những dự án xi măng đầu tư mới phải có công suất tối thiểu 2.500 tấn clinker/ngày trở lên; các dự án ở vùng sâu, dự án chuyển đổi công nghệ có thể áp dụng quy mô, công suất phù hợp. Với sự quan tâm đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật trọng điểm của Chính phủ cùng với đà phục hồi của thị trường bất động sản, các chuyên gia dự đoán rằng mức tiêu thụ sản phẩm xi măng, nhất là tại thị trường nội địa sẽ vẫn giữ được nhịp tăng trưởng như những tháng cuối năm 2014./.

Theo ven.vn

Xử lý cao su phế thải thành nhiên liệu cấp nhiệt

Công ty TNHH TM DV công nghệ mới (Newtech) đã nghiên cứu và ứng dụng công nghệ nhiệt phân liên tục NP-LT tái chế rác cao su thành dầu FO-R và than CBM-R.
6c7d187798-1-05
Từ những phế liệu cao su, thông qua hệ thống tái chế Newtech đã biến chúng thành những nhiên liệu có ích. Nguồn nguyên liệu sau khi phân loại được đưa vào hệ thống tái chế qua quy trình nhiệt phân khép kín tạo thành sản phẩm dầu FO-R, than CBM-R.
Công nghệ xử lý này được thiết kế theo dạng khép kín, kết nối thành một quy trình tuần hoàn sử dụng máy móc chủ yếu tự động hóa. Thành phần chủ yếu của dầu FO-R là mạch hydrocarbon, chúng được sử dụng làm nhiên liệu đốt cho lò hơi, lò sấy và lò tải nhiệt của các hệ thống nhiệt.
Tương tự, than CBM-R cũng có cấu tạo chủ yếu là carbon dạng rắn thay thế cho than cám (than đá) và được sử dụng chủ yếu để làm phụ gia cho quá trình sản xuất gạch block không nung (gạch nhẹ) hoặc thay than cám trộn vào đất sét trong quá trình sản xuất gạch tuynel.
Theo MONRE

Quỹ Ủy thác tín dụng xanh (GCTF) khuyến khích Hiệu quả năng lượng trong các ngành công nghiệp và tòa nhà tại Việt Nam

Trong ngày 23-3-2015, tại Khách sạn InterContinental Asiana Saigon, tp HCM, đã diễn ra hội thảo Việt – Đức về “Quản lý năng lượng trong các ngành công nghiệp và cao ốc tại Việt Nam” do Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức tại Việt Nam (AHK Việt Nam) phối hợp tổ chức cùng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Kinh tế và Khoa học Bang Baden-Württemberg, với sự tài trợ của Bộ Kinh tế và Năng lượng, CHLB Đức. 

Camera 360

Các đại biểu tham dự hội thảo chụp ảnh lưu niệm

Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng của Việt Nam, đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng để việc sử dụng năng lượng đạt hiệu quả cao, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất nhằm tiết giảm chi phí trong sinh hoạt, dịch vụ và đặc biệt trong sản xuất.

Với chủ đề xuyên suốt Hiệu quả năng lượng trong các ngành công nghiệp và tòa nhà, hội thảo đã thảo luận với các nội dung chính gồm: khuôn khổ pháp lý cũng như chính sách, cơ chế ưu đãi và xử phạt về bảo tồn và sử dụng năng lượng hiệu quả tại Việt Nam; hệ thống chứng nhận cao ốc xanh và các tiêu chuẩn về sử dụng năng lượng hiệu quả cũng như các ví dụ điển hình từ công ty CP Vicem Hà Tiên và dự án Ngôi nhà Đức tại Việt Nam.

Tại hội thảo, Quỹ Ủy thác tín dụng xanh (GCTF) đã có cơ hội tiếp xúc với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, cũng như các nhà cung ứng công nghệ và giải pháp quản lý năng lượng hiệu quả và các chuyên gia tư vấn chuyên ngành để quảng bá hình ảnh và dịch vụ của mình, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác.

GCTF là một giải pháp hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam mạnh dạn hơn trong quá trình đầu tư lắp đặt công nghệ mới để thay thế công nghệ lạc hậu

Theo đó, sẽ có rất nhiều DN trong ngành công nghiệp tại Việt Nam nằm trong mục tiêu hỗ trợ của GCTF. Các ngành như sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, xi măng…), sản xuất thủy tinh (thay lò nấu thủy tinh …), ngành nhựa (thay máy ép thế hệ mới…), ngành dệt nhuộm (thay máy nhuộm, lò hơi…), ngành chế biến thực phẩm, sản xuất thép, luyện kim, thuộc da, sản xuất hóa chất, sơn, pin, ắc quy…

Ngoài ra, các lĩnh vực khác như nhà hàng, dịch vụ ăn uống, khách sạn, trung tâm hội nghị, trung tâm thương mại, khu vui chơi – giải trí, toà nhà văn phòng… cũng có thể tham gia vào GCTF nếu có các dự án liên quan đến tiết kiệm nhiên liệu, năng lượng và bảo vệ môi trường…

Theo Admin GCTF

Xu hướng mới: Điện mặt trời nổi trên nước

Ứng dụng năng lượng mặt trời ở quy mô lớn nhất bây giờ và có thể cả trong tương lai vẫn là sản xuất điện năng.

Về mặt công nghệ, hiện nay chỉ phát triển rộng rãi hai loại: Công nghệ quang điện SPV (Solar Photovoltaic) và Công nghệ hội tụ năng lượng mặt trời CSP (concentrated solar power).

Riêng trong công nghệ SPV, năng lượng ánh sáng mặt trời được chuyển thành điện năng bởi các tế bào quang điện (hay các pin mặt trời nhỏ bé). Các pin nhỏ này ghép lại thành tấm pin mặt trời lớn và các tấm pin này lại ghép với nhau thành mô-đun hay dãy trước khi đưa lên lưới điện và chuyển đến người sử dụng.

Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lượng vô tận và “không mất tiền mua”, vậy mà từ bao nhiêu năm nay ngành công nghiệp điện mặt trời chỉ được phát triển một cách chậm chạp và dè dặt, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng công nghệ quang điện SPV.

Chỉ trong những năm gần đây nền điện năng mặt trời loại này như được khởi sắc bởi sự chắp cánh của xu hướng sản xuất ngay trên mặt nước của sông hồ và cả trên mặt biển.

Sáng kiến mở đầu từ Israel

điện mặt trời, nổi trên nước, xu hướng, nhà máy, năng lượng

Sự hạn chế lớn của việc khai thác năng lượng ánh sáng mặt trời để biến thành điện năng dùng công nghệ SPV gây ra bởi hai khó khăn chính. Trước hết, chất bán dẫn Silicon là vật liệu tốt nhất nhưng cũng khá đắt đỏ trong công nghệ CSP. Thứ hai là yêu cầu lớn về diện tích đất để đặt các tấm thu ánh sáng mặt trời trong lúc việc mua hay thuê đất bằng phẳng cũng là khó khăn lớn khiến giá thành của điện mặt trời bị đẩy lên khá cao.

Trong những nước đi tiên phong trong việc xây dựng và thí điểm công nghệ nhằm khắc phục các khó khăn trên phải kể đến Israel, cụ thể là hãng Solaris Synergy. Chính hãng Solaris Synergy đã giải quyết cả 2 vấn đề khó khăn nói trên, đạt được những hiệu quả đáng ngạc nhiên và, nhờ vậy, đã đạt được vị trí thứ nhất trong cuộc thi ý tưởng tại Đại học Tel Aviv vào tháng 11 năm 2011.

Cụ thể, các kết quả nghiên cứu đạt được của Solaris Synergy như sau. Để giảm chi phí sử dụng các tấm silicon lớn, cần chia nhỏ chúng rồi cho “nổi trên mặt nước như đồ chơi Lego” và “được bao phủ bởi một tấm phim tráng gương có hình cong, có thể thu ánh sáng thành một đường mỏng… “ và, như vậy, “bề mặt của thiết bị giảm chỉ cần 5% lượng silicon, do đó giảm được chi phí đắt đỏ của loại vật liệu này”.

Để giảm tốn kém diện tích đất, hãng Solaris Synergy đã đưa thiết bị thu và biến đổi ánh sáng mặt trời thành dòng điện cho nổi trên mặt nước sạch, nước mặn hoặc nước thải. Và hệ thiết bị này được nâng bởi một mạng lưới được kết nối từ các phần nhỏ chế biến từ sợi thủy tinh và chất dẻo siêu nhẹ có thể nổi được trên mặt nước. Ngoài ra, có thể kể thêm một lợi ích kèm theo: tấm pin mặt trời trên mặt nước này còn đưa lại lợi ích khác vì nó giảm đáng kể sự bay hơi, ngăn chặn sự phát triển của tảo và các sinh vật hữu cơ trong môi trường nước.

Và để cho tia sáng mặt trời luôn hội tụ trong các tấm silicon, tấm lưới nâng được xoay dần dần theo sự di chuyển của mặt trời trong ngày nhờ một động cơ nhỏ điều khiển từ xa qua ăng-ten…

Phát minh trên của hãng Solaris Synergy có ý nghĩa lớn và được ứng dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới, trước hết phải kể đến các quốc gia Anh, Úc, Ấn Độ và Ý. Và tiêu biểu là hai nhà máy điện mặt trời ở hai nước Australia và Nhật Bản.

Australia: Nhà máy điện SPV nổi đầu tiên

Nhà máy điện mặt trời sử dụng công nghệ quang điện SPV nổi trên nước đầu tiên với những tính năng ưu việt của nó đã được xây dựng và sắp hoàn thành, dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động ngay đầu tháng 4/2015 sắp tới.

Nhà máy này nổi trên một mặt hồ của cơ sở xử lý nước thải ở thị trấn Jamestown thuộc bang Nam Australia. Nhà máy được thiết kế để phần lớn công trình được thực hiện ở bên ngoài, rồi lắp ráp lại với nhau bên trên cơ sở xử lý nước thải.

Các tấm thu năng lượng mặt trời nổi sẽ được làm mát bởi phần nước phía dưới, do đó làm tăng hiệu quả hoạt động lên 57% so với các tấm thu năng lượng mặt trời trên cạn. Đồng thời các tấm này “cũng giúp ngăn chặn 90% nước bốc hơi từ bề mặt được che phủ phía dưới. Đối với những tiểu bang khô hạn hay những vùng có khí hậu khô, đây là một giải pháp tiết kiệm nước tuyệt vời…Nó cũng ngăn chặn tảo xanh phát triển bằng cách giữ mát cho bề mặt nước, cải thiện chất lượng nước qua xử lý” (theo lời bà Felicia Whiting thuộc Công ty Infratech Industries).

điện mặt trời, nổi trên nước, xu hướng, nhà máy, năng lượng

Nhà máy điện mặt trời nổi đầu tiên của Australia được xây dựng bên trên một hồ nước của cơ sở xử lý nước thải. Ảnh: ABC.

Có thể xem nhà máy ở Nam Australia này thực sự là nhà máy điện mặt trời nổi đầu tiên trên thế giới. Với nhà máy này, các nhà chuyên môn khẳng định đây là mô hình nhà máy điện mặt trời bền vững, không tốn diện tích đất và là hình mẫu cho nhiều nước trên thế giới.Công ty Infratech Infratech đã phát triển các nhà máy điện mặt trời nổi ở nhiều quốc gia như Pháp và Hàn Quốc, nhưng đó cũng chỉ là những điểm thử nghiệm. Chính nhà máy sắp đưa vào hoạt động ở Nam Australia mới là nhà máy được áp dụng mô hình mới được cải tiến, dự kiến sẽ sản xuất năng lượng không chỉ đủ cho cơ sở xử lý nước thải hoạt động, mà còn cung cấp điện cho thị trấn Jamestown.

Nhật: Dự án điện mặt trời nổi lớn nhất

Ngoài Australia, gần đây, công nghệ pin năng lượng mặt trời lắp đặt trên mặt nước đã được quan tâm phát triển tại Anh, Úc, Ấn Độ và Ý.

Và đặc biệt ở Nhật Bản, một đất nước khá hẹp về diện tích đất đai bằng phẳng và không đủ diện tích để xây dựng các nhà máy điện mặt trời cỡ lớn. Nhưng bù lại, nước Nhật có tiềm năng về các hồ tích nước trong nông nghiệp, hồ kiểm soát lũ và, ngoài ra, toàn bộ đất nước Phù Tang bao quanh bởi đại dương bao la. Đó là tài sản quý giá để đặt các tấm panô pin cho các nhà máy điện mặt trời kích cỡ khác nhau.

Nhìn lại quá trình phát triển ở Nhật Bản, ông Nobuo Kitamura, giám đốc điều hành cấp cao của Kyocera, cho biết: từ năm 1970 nước này đã bắt đầu nghiên cứu và phát triển năng lượng Mặt Trời, nhưng chủ yếu là ứng dụng với phạm vi nhỏ hẹp như trong sản xuất điện cho đèn đường, biển báo giao thông và trạm viễn thông ở khu vực miền núi. Bước tiếp theo là xây dựng một số nhà máy lớn hơn trên các dải đất ven biển như Kagoshima Nanatsujima.

điện mặt trời, nổi trên nước, xu hướng, nhà máy, năng lượng

Ảnh nhà máy điện mặt trời Kagoshima Nanatsujima hiện có của Nhật. Ảnh: Kyocera.

Và vào tháng 9 năm qua, tập đoàn Kyocera đưa ra kế hoạch khởi công xây dựng nhà máy điện mặt trời nổi trên nước lớn nhất thế giới: phủ 11.000 tấm panô pin mặt trời lên hai khu vực mặt nước rộng ở tỉnh Hyogo. Hai trạm quang điện nổi này có công suất 2,9 MW, đủ để cung cấp điện sinh hoạt cho 920 hộ dân.Đặc biệt, kể từ năm 2011 khi xảy ra thảm họa động đất sóng thần với nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima, Nhật Bản chú trọng phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời với xu hướng thiên về các nhà máy sử dụng công nghệ quang điện SPV và lắp đặt trên mặt nước.

Đồng thời Kyocera cho xây dựng 30 nhà máy quang điện nổi trên biển vào năm 2015 để sản xuất ra 60 MW điện. Theo Kyocera, các panô nổi trên biển hoạt động tốt hơn trên đất liền vì nước biển làm mát các tấm pin mặt trời khiến tế bào quang điện hoạt động hiệu quả hơn.

Hệ thống năng lượng mặt trời trên mặt nước lớn nhất sẽ được xây dựng trên đập Yamakura. Dự kiến dự án sẽ hoàn thành vào tháng 3 năm 2016, khi đó hệ thống sẽ bao phủ 180.000 m2 nước, với 50.000 tấm pin năng lượng mặt trời và cung cấp điện cho khoảng 5.000 hộ tiêu thụ.

Với nhà máy điện mặt trời nổi đầu tiên sắp khánh thành trong tháng sau của Australia và hệ thống nhà máy quy mô hàng đầu thế giới của Nhật bản dự kiến khai trương vào đầu năm tới, ngành điện mặt trời theo công nghệ SPV trên thế giới sẽ vươn lên một vị thế mới sánh vai với ngành này theo công nghệ hội tụ năng lượng mặt trời CSP sẽ trình bày trong phần giới thiệu kế tiếp Công nghệ hội tụ năng lượng mặt trời CSP (concentrated solar power).

Theo Vietnamnet.vn

Cần nhân rộng việc phát triển đô thị sinh thái, giảm thải carbon

Việt Nam hiện có tổng số 774 đô thị. Tại các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đều phải đối diện với các vấn đề như: gia tăng dân số (khu trung tâm thành phố), ngập úng, ùn tắc giao thông, thiếu năng lượng, ô nhiễm/nguồn nước có nguy cơ nhiễm mặn.

Dự kiến, đến hết năm 2015, Việt Nam sẽ có khoảng 850 đô thị, đến năm 2025 là 1.000 đô thị và các thách thức liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng lớn.

Những thông tin trên được nêu lên tại hội thảo “Phát triển đô thị sinh thái và ứng dụng công nghệ giảm thải Carbon”, diễn ra sáng 11/3, tại Khu đô thị Ecopark. Hội thảo do Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng TP Hồ Chí Minh (ECC – HCMC) phối hợp với Cục Phát triển Đô thị – Bộ Xây dựng tổ chức.

Tại hội thảo, các chuyên gia cũng đưa ra đánh giá, thế giới đang phải đối mặt với những rủi ro chung mang tính chất toàn cầu như: biến đổi khí hậu, hạn hán, bão lụt, động đất, cháy rừng, hiện tượng băng tan, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là việc lượng khí thải carbon toàn cầu liên tục gia tăng và đã đạt tới mức kỷ lục là 36 tỷ tấn từ năm 2013.

Xuất phát từ hiện trạng nêu trên, phát triển carbon thấp đã trở thành một ưu tiên trong các chính sách, chiến lược quan trọng của quốc gia. Chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng chung sức với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu và tiến tới phát triển bền vững.

Trong thời gian qua, hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đã được mở rộng và phát triển mạnh. Nhật Bản là một trong những nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu. Hai quốc gia đã ký kết “Thỏa thuận hợp tác về cơ chế tín chỉ chung JCM”. Đây là cơ hội để các thành phố, khu đô thị tại Việt Nam tiếp cận và sử dụng nguồn hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản để áp dụng những công nghệ tiên tiến, ít phát thải carbon, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tại hội thảo lần này, các chuyên gia tập trung giới thiệu tổng quan về chính sách, thực tiễn phát triển đô thị sinh thái tại Việt Nam đồng thời giới thiệu các tiêu chuẩn đô thị sinh thái của Nhật Bản; các chương trình hỗ trợ cho phát triển thành phố sinh thái thông qua nghiên cứu khả thi theo “cơ chế tín chỉ chung”.

Ecopark là một mô hình kiểu mẫu của đô thị sinh thái.

Ecopark là một mô hình kiểu mẫu của đô thị sinh thái

Những chuyên gia đến từ các tổ chức và doanh nghiệp Nhật Bản đã giới thiệu những giải pháp công nghệ ứng dụng, khả năng chuyển giao công nghệ cho các khu đô thị tại Việt Nam như: công nghệ năng lượng mặt trời, công nghệ chiếu sáng đèn LED, công nghệ xử lý nước thải, hệ thống chia sẻ xe đạp thông minh đã áp dụng thành công tại Nhật Bản.

Hội thảo là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp bất động sản tại Việt Nam tiếp cận các sáng kiến khoa học kỹ thuật và ứng dụng trong việc phát triển đô thị sinh thái. Ngoài việc thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm, các học giả và nhà khoa học trong và ngoài nước, các doanh nghiệp đã đi thăm quan thực tiễn khu đô thị Ecopark và đánh giá đây là một mô hình kiểu mẫu của đô thị sinh thái.

Theo Lan Hương/Hà Nội mới

Video clip cảm động đạt 200 triệu lượt xem chỉ sau 2 ngày!

Ô nhiễm kinh khủng ngay giữa thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân

Một video phim tài liệu về vấn đề ô nhiễm môi trường của Trung Quốc đã đạt 200 triệu lượt truy cập chỉ sau 2 ngày cuối tuần và số người truy cập vẫn tiếp tục tăng. Các nhà môi trường đánh giá rằng bộ phim giúp người dân Trung Quốc mở rộng tầm mắt.

Khách du lịch phải bịt kín khẩu trang và đeo kính khi đến Công viên Thiên Đàn ở Bắc Kinh vào tháng Giêng. (Ảnh: Tân Hoa xã)

Khách du lịch phải bịt kín khẩu trang và đeo kính khi đến Công viên Thiên Đàn ở Bắc Kinh vào tháng Giêng. (Ảnh: Tân Hoa xã)

Chai Jing là một phóng viên điều tra đang làm việc tại đài truyền hình quốc gia Trung Quốc. Cô đã phải bỏ công việc của mình vào năm ngoái để chăm sóc con gái điều trị khối u lành tính.Trong bộ phim tài liệu này, Chai Jing đã diễn tả cô phải rất khó khăn khi giải thích cho cô con gái của mình rằng tại sao không nên ra ngoài đường.

“Tại Bắc Kinh vào năm 2014, tôi chỉ dám đưa con gái ra ngoài khi không khí trong lành hơn,” cô nói trong bộ phim. “Có 175 ngày ô nhiễm trong năm ngoái. Điều đó có nghĩa rằng trong nửa năm, tôi không có sự lựa chọn nào khác mà phải giữ con gái ở nhà, đóng cửa tại như một tù nhân.”

Chai Jing đã đầu tư 160.000 USD và mất một năm để làm bộ phim Under The Dome, tiêu đề giống như một cuốn tiểu thuyết của Stephen King. Một số cảnh trong phim đang gây sốc, trong đó có một chuyến thăm tới một phòng điều hành của bệnh viện, nơi mà các khán giả nhìn thấy những bệnh nhân bị bênh phổi do ô nhiễm không khí tại Trung Quốc gây ra.

Chai Jing hỏi một số câu hỏi khó về chính trị và kinh tế, về nguyên nhân gây ra sương khói, nhưng thường với một cách nhẹ nhàng, hài hước.

Cô phỏng vấn một quan chức môi trường, địa phương, người cảm thấy bất lực khi thực thi pháp luật của nhà nước. Ông thừa nhận rằng, “Tôi không muốn mở miệng, bởi vì tôi e sợ bạn sẽ thấy tôi không có răng.”

Cô thú nhận rằng, giống như nhiều công dân Trung Quốc, chỉ mới đây cô mới biết được sự khác biệt giữa sương mù và sương khói.

Cô đã phỏng vấn các quan chức địa phương, người đã bảo vệ cho các ngành công nghiệp gây ô nhiễm vì các ngành công nghiệp đó đã tạo ra công ăn việc làm và nộp thuế.

Chai Jing không chỉ trích một cách rõ ràng mô hình phát triển kinh tế của Trung Quốc. Cô cũng không gọi tên các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối với các chính sách này. Cô muốn nói lên rằng, ô nhiễm là cái giá phải trả cho việc công nghiệp hóa nhanh chóng và Trung Quốc đã đến lúc bị trả giá.

Trong bộ phim, Chai đã đi đến Los Angeles và London để tìm hiểu cách để những thành phố đó có không khí sạch. Cô kết luận rằng Trung Quốc có thể làm theo những tấm gương đó, và các công dân nên cùng chung tay giải quyết.

“Các chính phủ lớn mạnh trên thế giới không thể tự giải quyết các ô nhiễm… Họ phải dựa vào mỗi người dân bình thường như bạn và tôi, dựa trên sự lựa chọn của chúng tôi, và theo ý của chúng tôi.”

Ma Jun, giám đốc của Viện công cộng và các vấn đề môi trường Bắc Kinh, đồng ý với quan điểm này/ Ông coi bộ phim tài liệu Chai như một lời cảnh tỉnh đối với Trung Quốc, sánh với An Inconvenient Truth, các phim tài liệu về biến đổi khí hậu năm 2006, và Silent Spring, cuốn sách năm 1962 của Rachel Carson về thuốc trừ sâu độc hại.

Ông Ma Jun đã đưa ra lời giải thích vì sao chính phủ Trung Quốc không im lặng trước Chai Jing, và Bộ trưởng môi trường mới của Trung Quốc thậm chí còn cảm ơn cô.

“Bộ phim được chú ý mạnh mẽ vì đề cập đến vấn đề gốc rễ sâu xa, đã được phép phổ biến rộng rãi,” ông nói, ” đó là mặt tích cực của bộ phum, mang đến cho mọi người hy vọng và niềm tin.”

Chai đã từ chối yêu cầu phỏng vấn, ngoại trừ cuộc phỏng vấn với phiên bản web của tờ Nhân dân Nhật báo.

“Mười năm trước, tôi từng tự hỏi, có mùi gì (khó chịu) trong không khí vậy. Giờ đây, tôi đã biết, đó chính là “mùi tiền” – Chai Jing, phóng viên, nhà làm phim tài liệu.

Website đó cho phát trực tuyến bộ phim tài liệu cho đến tận ngày 4/3. Sau đó, nó biến mất mà không có lời giải thích. Tuy nhiên bộ phim vẫn có thể xem được ở những trang web khác ở chính Trung Quốc.

Trong hơn một thập niên qua, Trung Quốc tuyên bố đã đến lúc xử lý ô nhiễm môi trường và họ sẵn sàng giảm tăng trưởng kinh tế để thực hiện được điều đó. Nhưng năm ngoái chỉ có 8 trên 74 thành phố Trung Quốc đáp ứng các chỉ tiêu chất lượng không khí – nhiều hơn 5 thành phố so với năm 2013.

Các nhà môi trường đã hoan nghênh dấu hiệu đáng khích lệ khác trong những tháng gần đây. Cuối tháng 11/2014, lần đầu tiên, Trung Quốc đặt mục tiêu cho năm 2030 lượng khí thải carbon đath mức tối đa, sau đó sẽ giảm dần.

Và đã hứa sẽ cho phép các nhóm nghiên cứu môi trường nộp đơn kiện tập thể chống lại những tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường.

Theo CTV Nguyễn Xuân Hưng/ vov.vn

Khởi động dự án điện gió đầu tiên ở Tây Nguyên

Dự án “Phong điện Tây Nguyên” được xây dựng tại huyện Ea H’leo (Đắk Lắk) sẽ cung cấp 450 triệu/Kwh/năm, đủ khả năng cung cấp điện cho 200 nghìn hộ gia đình ở Tây Nguyên.

Dự án được khởi công sáng nay (6/3), tại xã Đliê-Yang, huyện Ea H’leo (Đắk Lắk) do Công ty Giải pháp năng lượng gió HBRE (HBRE Wind Power Solution) làm chủ đầu tư với tổng công suất thiết kế là 120 MW, tổng mức đầu tư khoảng 6.000 tỷ  đồng.

20150306221828-a1

 Lễ khởi công dự án “Phong điện Tây Nguyên”

Sản lượng điện cung cấp hàng năm lên đến 450 triệu Kwh/năm, đủ khả năng cung cấp cho 200 ngàn hộ gia đình. Dự án này chia làm 3 giai đoạn và dự kiến đến năm 2020 sẽ hoàn thành toàn bộ. Riêng giai đoạn 1 sẽ hoàn thành và hòa vào điện lưới Quốc gia trong quý 2 năm 2016, với công suất là 28 MW.

Dự án triển khai và đi vào vận hành ngoài việc tạo được nguồn năng lượng xanh còn góp phần phát triển môi trường đầu tư của địa phương; tạo công ăn việc làm, nâng cấp, mở rộng hệ thống giao thông; tạo cảnh quan môi trường, phát triển du lịch và kinh tế- xã hội.

Ông Y Dhăm Enuôl, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, đây là dự án điện gió đầu tiên ở Tây Nguyên, tỉnh Đắk Lắk sẽ tạo mọi điều kiện về cơ chế chính sách để dự án hoàn thành đúng thời gian. Đồng thời mong muốn, chủ đầu tư và đơn vị thi công sẽ tập trung mọi nguồn lực để sớm hoàn thành theo tiến độ dự án đề ra; bảo đảm nhà máy hoạt động ổn định, hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh phát triển.

Kết quả nghiên cứu của Bộ Công thương, Tây Nguyên là một trong những vùng có nguồn năng lượng gió dồi dào và ổn định nhất Việt Nam. Năm 2012, tổng công suất lắp đặt điện gió của Tây Nguyên chiếm khoảng 25% trên tổng sản lượng điện gió tiềm năng của Quốc gia, tập trung chủ yếu ở Đắk Lắk và Gia Lai.

 Theo Vietnamnet.vn

 

Anh hỗ trợ thương mại hóa sáng kiến khoa học Việt Nam

Một số nhà khoa học Việt Nam sẽ tìm hiểu những kinh nghiệm của các đối tác Anh để thương mại hóa các sản phẩm khoa học trong thời gian tới.

kh-7081-1425298111

Ông Phạm Hồng Quất, Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KHCN (giữa) trong buổi họp báo chiều nay. Ảnh: Việt Anh

14 nhà khoa học là các giảng viên các trường đại học, nhà nghiên cứu và doanh nhân liên quan đến lĩnh vực khoa học công nghệ sẽ đến Anh tham gia chương trình “Hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học”, ông Nguyễn Văn Trúc, Giám đốc Trung tâm Đào tạo và hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ, Bộ Khoa học Công nghệ, cho biết chiều nay.

Đây là dự án nằm trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và Anh, do Cục Phát triển Thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ (PTTT), Bộ Khoa học Công nghệ, phối hợp với Viện Hàn lâm kỹ thuật Hoàng gia Anh tổ chức. Mục tiêu là đào tạo nâng cao năng lực cho các nhà khoa học, các nhà sáng chế Việt Nam trong việc thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu và tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức khoa học của Anh. Trong đó Quỹ Newton của Anh hỗ trợ khoản chi phí 75.000 bảng Anh, theo ông Trúc.

Từ ngày 7 đến ngày 19/3, các nhà khoa học Việt Nam sẽ tìm hiểu các mô hình kinh doanh khoa học công nghệ, phát triển và thuyết phục khách hàng, dựa trên các kinh nghiệm thành công của các doanh nghiệp Anh. Các học viên cũng sẽ thảo luận hình thức kinh doanh công nghệ mới và các yếu tố thành công trong tiếp cận thị trường, thực hành phương án kinh doanh của mình dưới sự hỗ trợ của các chuyên gia cố vấn, kết nối với các chuyên gia và mạng lưới doanh nghiệp khoa học công nghệ của Viện Hàn lâm. Sau đó, từ tháng 4 đến tháng 12 năm nay, các học viên sẽ được Cục PTTT hỗ trợ tập huấn và hoàn thiện kế hoạch kinh doanh phù hợp với chính sách và điều kiện Việt Nam.

Ông Phạm Hồng Quất, Cục trưởng Cục PTTT cho biết ông kỳ vọng các nhà khoa học sẽ tìm hiểu kỹ các câu chuyện thành công và thất bại ở Anh để có thể áp dụng khi về Việt Nam. “Các nhà khoa học phải làm giàu từ đề tài của mình”, ông Quất nói.

Ông Trần Văn Bình, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Đầu tư và phát triển công nghệ, Đại học Bách khoa, cho hay ông mong muốn tìm hiểu mô hình vườn ươm doanh nghiệp công nghệ, mối quan hệ giữa nhà khoa học với doanh nghiệp, vai trò của nhà nước trong xây dựng vườn ươm. “Hiện trạng vườn ươm ở Việt Nam là hết tài trợ là ngưng hoạt động”, ông Bình cho hay. Sau chuyến đi, ông Bình hy vọng tạo ra “hệ sinh thái” để phát huy tinh thần khởi nghiệp của Việt Nam, sẽ xây dựng vườn ươm trong hệ thống doanh nghiệp của Đại học Bách Khoa.

Theo Vnexpress.net